Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Thông tư hướng dẫn kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Mục đích nhằm cụ thể hóa khung pháp lý cho giai đoạn thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ.
Thông tư được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng chuẩn mực về ghi nhận, hạch toán và trình bày báo cáo tài chính đối với các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa, đồng thời tăng cường tính minh bạch và quản lý rủi ro trên thị trường.
Áp dụng trong giai đoạn thí điểm, chưa điều chỉnh nghĩa vụ thuế
Theo dự thảo, Thông tư này điều chỉnh nguyên tắc kế toán đối với một số hoạt động đặc thù của các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa trong thời gian thí điểm, trên cơ sở tuân thủ Luật Kế toán, Luật Công nghiệp công nghệ số và các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành.
Đáng chú ý, Thông tư không điều chỉnh việc xác định nghĩa vụ thuế đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa. Việc kê khai, nộp thuế vẫn thực hiện theo các quy định pháp luật về thuế hiện hành, tách biệt với nội dung kế toán trong giai đoạn thí điểm.
Ba nhóm đối tượng áp dụng gồm:
- Tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, bao gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch, lưu ký, nền tảng phát hành và các dịch vụ nghiệp vụ liên quan.
- Tổ chức phát hành tài sản mã hóa, thực hiện chào bán, phát hành tài sản mã hóa thông qua nền tảng được cấp phép.
- Nhà đầu tư trong nước là tổ chức, được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tham gia đầu tư trên thị trường tài sản mã hóa.
Các đối tượng này phải thực hiện hạch toán kế toán theo Chế độ kế toán doanh nghiệp và các hướng dẫn cụ thể trong Thông tư.
Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo là nguyên tắc quản lý và hạch toán tách biệt giữa tiền và tài sản mã hóa của khách hàng và tiền và tài sản mã hóa của tổ chức cung cấp dịch vụ.
Theo đó, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa phải mở sổ theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, từng loại tài sản, từng khoản phải thu; đồng thời ghi nhận doanh thu từ phí lưu ký, phí quản lý tài sản, phí thực hiện quyền và các nghiệp vụ liên quan một cách riêng biệt, minh bạch.
Phân loại tài sản mã hoá
Tài sản mã hoá được phân loại theo chuẩn mực quốc tế, gồm:
- Hàng tồn kho: Áp dụng với các đơn vị nắm giữ tài sản mã hoá với mục đích mua bán như sàn giao dịch, nhà tạo lập thị trường, doanh nghiệp giao dịch tài sản mã hoá.
- Công cụ tài chính: Không áp dụng trường hợp này vị Nghị quyết đã ghi rõ tài sản mã hoá không phải là chứng khoán và không phải là tài sản tài chính.
- Tài sản mã hoá hiện không phải là tài sản tài chính, không phải tiền, không có hình thái vật chất, tuy vậy có thể kiểm soát qua khoá riêng tư, có giá trị thích trường thì có thể phân loại là tài sản vô hình.
Hoạt động tự doanh được hạch toán tương tự chứng khoán
Đối với hoạt động tự doanh tài sản mã hóa, dự thảo Thông tư quy định việc hạch toán doanh thu, chi phí và quản lý rủi ro tương tự hoạt động chứng khoán kinh doanh. Các tổ chức cung cấp dịch vụ phải:
- Theo dõi chi tiết từng loại tài sản mã hóa tự doanh đang nắm giữ;
- Hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu từ hoạt động tự doanh;
- Thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tương tự quy định áp dụng đối với công ty chứng khoán.
Quy định này cho thấy định hướng tiếp cận thận trọng, coi tài sản mã hóa là một loại tài sản tài chính có rủi ro cao trong giai đoạn thí điểm.
Phát hành tài sản mã hóa được xem như hoạt động vay vốn
Với tổ chức phát hành tài sản mã hóa, dự thảo yêu cầu căn cứ vào bản chất giao dịch để hạch toán kế toán.
Đáng chú ý, hoạt động phát hành tài sản mã hóa được hướng dẫn hạch toán tương tự như hoạt động vay vốn của doanh nghiệp, thay vì ghi nhận như vốn chủ sở hữu hay doanh thu ngay tại thời điểm phát hành
Đối với nhà đầu tư trong nước là tổ chức, việc mua bán, nắm giữ tài sản mã hóa trên các nền tảng giao dịch được hạch toán tương tự hoạt động đầu tư tài chính, căn cứ vào mục đích nắm giữ (kinh doanh, đầu tư ngắn hạn hay dài hạn) để ghi nhận kế toán phù hợp.