Áp lực lạm phát năm 2026 là rất lớn, kịch bản có thể lên tới 4,5%
Tại Diễn đàn thường niên về diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam lần thứ nhất năm 2026, chuyên gia kinh tế TS. Cấn Văn Lực, cho rằng năm vừa qua, tác động bất lợi lớn nhất đối với lạm phát Việt Nam đến từ giá vàng thế giới, trong khi mặt tích cực lại đến từ xu hướng giảm mạnh của giá hàng hóa toàn cầu.
“Giá dầu thô bình quân thế giới năm 2024 ở mức khoảng 81 USD/thùng, sang năm 2025 giảm xuống khoảng 69 USD/thùng và năm 2026 được dự báo tiếp tục giảm, có thể xuống dưới 60 USD/thùng. Những biến động cục bộ như Venezuela, theo đánh giá của chúng tôi, tác động không đáng kể”, TS. Lực phân tích.
Việc giá xăng dầu giảm được xem là biến số đặc biệt quan trọng, giúp giảm áp lực chi phí đầu vào, qua đó hỗ trợ kiểm soát lạm phát trong nước. Bên cạnh đó, giá hàng hóa nhập khẩu tăng thấp hơn giá xuất khẩu, khiến chỉ số giá ngoại thương của Việt Nam có lợi.
Cụ thể, năm qua giá nhập khẩu chỉ tăng khoảng 1,1%, trong khi giá xuất khẩu tăng 1,3%, qua đó hạn chế tác động lan truyền lên lạm phát.
Phân tích sâu hơn, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra 4 nhóm hàng hóa – dịch vụ đóng góp tới 94% mức tăng CPI của Việt Nam trong năm qua.
Trong đó, nhóm dịch vụ y tế (chiếm 21% rổ CPI) tăng mạnh tới 13%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng (35%) tăng khoảng 6,1%; nhóm lương thực – thực phẩm (33%) tăng 3,3%, nhưng được “đỡ lực” nhờ giá gạo và thịt lợn ổn định. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác đóng góp hơn 5%.
Ngược lại, nhóm giao thông, chiếm khoảng 6,3% rổ CPI, lại giảm 2,14%, chủ yếu nhờ giá xăng dầu giảm. Điều này cho thấy lạm phát không tăng đồng loạt mà phụ thuộc mạnh vào cơ cấu từng nhóm hàng hóa.
Tuy vậy, TS. Cấn Văn Lực cảnh báo, áp lực lạm phát năm 2026 là rất lớn, đặc biệt khi Việt Nam tiếp tục thúc đẩy đầu tư công, mở rộng sản xuất và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao.
“Kịch bản lạm phát có thể lên tới 4,5% nếu không có các giải pháp điều hành phù hợp và mang tính căn cơ”, ông nhấn mạnh.
Phát hành tiền số có thể giúp giảm lạm phát
Một điểm nhấn quan trọng trong phân tích của TS. Cấn Văn Lực là vòng quay tiền đang ở mức rất thấp. Năm qua, cung tiền (M2) tăng khoảng 15,7%, tín dụng tăng 19%, nhưng vòng quay tiền chỉ đạt 0,65 lần, thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn lạm phát cao trước đây (khoảng 1,1–1,2 lần).
Theo TS. Lực, vòng quay tiền thấp xuất phát từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, dòng tiền bị “mắc kẹt” trong các kênh tài sản và tích trữ, đặc biệt là vàng, khiến tiền không quay trở lại sản xuất - tiêu dùng. Thứ hai, chi phí giao dịch trong nền kinh tế còn cao, làm giảm tốc độ lưu thông của tiền.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, đặc biệt là phát hành tiền số, được TS. Cấn Văn Lực đánh giá là một giải pháp rất đáng chú ý.
Tiền số giúp giảm mạnh chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian thanh toán, tăng tính minh bạch và khả năng truy vết dòng tiền. Khi chi phí giao dịch giảm, vòng quay tiền được cải thiện, nhưng không đồng nghĩa với việc làm gia tăng lạm phát, bởi lượng tiền không tăng thêm mà chỉ được lưu thông hiệu quả hơn.
“Phát hành tiền số có thể giúp giảm lạm phát. Giảm chi phí giao dịch chính là một cách để tăng vòng quay tiền nhưng không làm gia tăng áp lực lạm phát”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, đồng thời dẫn chứng kinh nghiệm thực tế tại Indonesia cho thấy thanh toán số và tiền số không gây lạm phát, thậm chí còn hỗ trợ ổn định giá cả.
Theo ông, nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong trung và dài hạn, thì không thể chỉ dựa vào mở rộng tín dụng hay đầu tư công, mà cần nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ.
Về tỷ giá, TS. Cấn Văn Lực cho rằng yếu tố này có tác động lan truyền tới lạm phát thông qua giá nhập khẩu, song mức độ ảnh hưởng không quá lớn do Việt Nam đã kiểm soát tốt các yếu tố khác.
“Chúng ta cần tiếp tục bóc tách, cập nhật lại mức đóng góp của từng yếu tố như tiền tệ, tài khóa, tỷ giá vào lạm phát để hỗ trợ điều hành chính sách hiệu quả hơn”, TS. Lực kiến nghị.